Giải phẫu tuyến vú ở phụ nữ trưởng thành ứng dụng chẩn đoán hình ảnh

Tuyến vú thuộc hệ thống tuyến sinh dục, có chức năng tiết sữa nuôi con ở người phụ nữ. Tuyến vú phát triển ở nữ giới, bình thường không phát triển ở nam giới. Hiểu được giải phẫu tuyến vú sẽ giúp thuận tiện trong  phân tích hình ảnh nhũ hóa (x quang tuyến vú), siêu âm và các can thiệp ngoại khoa.

1. Vị trí và kích thước

Ở phụ nữ trưởng thành, vú nằm giữa xương sườn 2- 6 theo trục dọc và giữa bờ xương ức với đường nách giữa trên trục ngang (xem hìnhl.l). Trung bình, đường kính vú đo được là 10-12 cm, và dày 5-7 cm ở vùng trung tâm. Mô tuyến vú cũng chiếu ra hố nách được gọi là đuôi nách của Spence. Hình dạng của vú rất thay đổi nhưng thường có hình như cái nón ở phụ nữ chưa sinh đẻ và có thể chảy xệ lủng lẳng ở những phụ nữ đã sinh đẻ.

2. Cấu trúc

 photo 17155277_1774514965909010_33804566571509569_n2_zpsrpmqluva.jpg

2.1. Cấu trúc vú

Gồm 3 thành phần

– Da

– Tổ chức dưới da

– Nhu mô tuyến vú, bao gồm cả nhu mô tuyến và tổ chức đệm.

Phần nhu mô tuyến được chia thành 15-20 phân thuỳ, tất cả đều tập trung về núm vú. Có tất cả khoảng 5 đến 10 ống dẫn sữa mở ra ở núm vú. Có rất nhiều cách gọi tên hệ thống ống dẫn, hệ thống nhánh có thể được gọi tên theo hình dáng, bắt đầu bằng các ống góp ở núm vú và kẻo dài cho tới các ống làm nhiệm vụ dẫn sữa tại mỗi nang.

Da vùng vú mỏng, bao gồm các nang lông, tuyến bã và các tuyến mồ hôi. Núm vú nằm ở khoang liên sườn 4, có chứa các tận cùng thần kinh cảm giác, bao gồm các thể Ruffini và các hành tận cùng của Krause. Ngoài ra còn có các tuyến bã và tuyến bán hủy nhưng không có các nang lông.

Quầng vú có hình tròn, màu sẫm. Các tuyến bã nằm ở rìa quầng vú, gồ cao hơn bề mặt da, là những tuyến bã lớn, có khả năng tiết sữa, nó là dạng trung gian giữa tuyến mồ hôi và tuyến sữa.

Toàn bộ vú được bao bởi cân ngực nông, cân này liên tục với cân nông Camper ở bụng. Mặt dưới của vú nằm trên cân ngực sâu, cân này che phủ phần lớn ngực và cơ răng trước. Hai lớp cân này nối với nhau bởi tổ chức xơ (dây chằng Cooper), là phương tiện nâng đỡ tự nhiên cho vú.

2.2. Hệ thống dây chằng Cooper

là tổ chức liên kết, bao quanh các thùy tuyến và nối các thùy tuyến với nhau, gắn tuyến vú vào cân cơ ngực lớn và cân cơ dưới da, bám vào dưới da tạo thành mào sợi Duret

2.3. Mạch máu của vú

Mặt ngoài của vú do động mạch ngực ngoài, 1/4 trên trong do động mạch ngực trong, 1/4 dưới trong do động mạch vai ngực

Tĩnh mạch ở nông tạo thành mạng tĩnh mạch Haller, ở sâu đi theo động mạch

2.4. Hệ thống bạch huyết của vú

1/4 trên trong đổ về nhóm hạch trên đòn, 1/4 dưới trong đổ về nhóm hạch cạnh ức; trung tâm vú, núm vú và nửa ngoài đổ về nhóm hạch nách.

Các hạch bạch huyết

Các nghiên cứu giải phẫu định khu cho thấy: các hạch lympho nách là con đường lan tràn chủ yếu của ung thư vú tiên phát.

Các hạch nách có thể được gộp lại thành các nhóm hạch vùng đỉnh, hạch dưới đòn giữa cơ ngực bé, nhóm hạch nằm dọc tĩnh mạch nách chạy từ cơ ngực bé tới thành bên hố nách; các hạch giữa cơ ngực (interpectoral) (hạch Rotter), nằm giữa cơ ngực lớn và cơ ngực bé, dọc theo thần kinh ngạc bên; nhóm hạch vai, gồm các hạch nằm dọc các mạch dưới vai; và nhóm hạch trung tâm nằm dưới bờ bên cơ ngực lớn và phía dưới cơ ngực bé. Các nhóm khác có thể gồm nhóm hạch ngoài vú, nằm ở đuôi nách và nhóm hạch cạnh vú nằm ở tổ chức mỡ dưới da 1/4 trên ngoài của vú.

Các hạch vú trong nằm ở khoang liên sườn vùng cạnh xương ức, các hạch nằm gần động mạch vú trong, trong tổ chức mỡ ngoài màng phổi và được phân bố trong các khoang liên sườn. Từ khoang liên sườn 2 trở xuống, các hạch vú trong được phân cách với màng phổi bởi lớp cân mỏng nằm trên cùng một bình diện ngang với cơ ngực. Số lượng hạch vú trong rất thay đổi.

Khi có di căn vào các hạch, có thể gây tắc nghẽn các dòng chảy bạch huyết sinh lý và vì vậy, các con đường thay thế có thể trở nên rất quan trọng. Các đường thay thế này nằm sâu, chạy ngang sau xương ức dẫn bạch huyết tới chuỗi hạch vú trong bên đối diện, đường chạy nông trước xương ức, đường chạy ngang khoang liên sườn, và đường trung thất, lan truyền qua cơ thẳng nông ở bụng tới đám rối dưới mạc treo và dưới hoành (con đường Gerota). Trong đó, con đường cuối cho phép di căn lan trực tiếp từ khối u tới gan và các hạch sau phúc mạc. Đường sau xương ức có thể được phát hiện khi nghiên cứu hình ảnh isotop các hạch bạch huyết.

2.4. Giải phẫu cơ và thần kinh

Các cơ quan trọng ở vùng vú là cơ ngực lớn và cơ ngực bé, cơ răng trước, cơ lưng, cũng như các mạc của cơ chéo ngoài và cơ thẳng bụng. Cơ thường cố định ở phía nguyên uỷ hơn là phía bám tận và được chi phối bởi dây thần kinh ngực giữa, xuất phát từ đám rối thần kinh cánh tay (đoạn C-8, T-l) và đi xuống ra phía sau cơ rồi chạy ngang trước tĩnh mạch nách.

Cơ răng trước cột xương bả vai vào thành ngực.

Cơ lưng rộng có đặc trưng là nguyên uỷ rất rộng từ các mỏm gai và dây chằng trên gai từ đốt sống ngực 7 trở xuống, bao gồm tất ca các đốt sống lưng và đất sống cùng.

Cơ dưới đòn, có nguyên uỷ từ chỗ nối sụn sườn của xương sườn thứ nhất, đây là một mốc rất quan trọng ở đỉnh hố nách. Tại phần gân của bờ dưới cơ này, có 2 lớp cân xương đòn-ngưc kết hợp với nhau để tạo thành dây chằng sườn quạ rất vững chắc chăng từ mỏm quạ tới chỗ nối sụn sườn thứ nhất (dây chằng Halsted). ở vị trí này các mạch máu của nách (tĩnh mạch đi trước động mạch) đi vào trong lồng ngực, phía trên xương sườn thứ nhất và dưới xương đòn. Có nhiều nhánh nhỏ không tên của tĩnh mạch nách đi vào phần thấp của cơ Còn ở gần đỉnh nách và trên xương sườn thứ 1 và 2, có 1 động mạch nhỏ, cũng là động mạch nằm cao nhất ở lồng ngực, xuất phát từ động mạch nách.

 

Đoàn, Thoại M.D

Chẩn đoán hình ảnh giống như cơm trong bữa ăn, còn làm website - viết bài giống như các món ăn. Cơm không thể thiếu và các món ăn có thể sẽ khác nhau giữa người này với người kia. Hãy chọn một nghề cho chín nhưng vẫn cần học 9 nghề còn lại để cuộc sống không còn nhàm chán.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Loading...