Diễn giải X quang vú (phần cuối): biến dạng cấu trúc, những trường hợp đặc biệt, những dấu hiệu kết hợp

Bài X quang vú có các từ vựng miêu tả (tạm dịch, tô màu xanh) dựa theo định nghĩa BIRADS hiện hành, gồm những phần sau:

– Khối

– Vôi hóa

– Biến dạng cấu trúc

– Những trường hợp đặc biệt

– Những dấu hiệu kết hợp

  1. BIẾN DẠNG CẤU TRÚC (ARCHITECTURAL DISTORTION)

Biến đổi cấu trúc là cấu trúc bình thường bị biến dạng mà không nhìn thấy khối xác định. Nó bao gồm các đường mảnh (lines) hoặc tỏa tia gai (spiculations) từ một điểm, gây co kéo khu trú và biến dạng bờ nhu mô. Biến dạng cấu trúc cũng có thể kết hợp với khối, không cân xứng hoặc vôi hóa. Khi không có tiền sử chấn thương hoặc phẫu thuật thích hợp, biến dạng cấu trúc bị nghi là ác tính hoặc sẹo tỏa tia và sinh thiết là hợp lý.

Biến dạng cấu trúc. Hình X quang cho thấy nhiều gai tỏa tia (các mũi tên) không hội tụ đến bờ của khối. (Carl J. D’Orsi. Radiol Clin N Am 45 (2007) 751–763).

Khối có gai. Các gai (mũi tên nhỏ) tỏa tia ra từ bờ của một khối (mũi tên lớn). (Carl J. D’Orsi. Radiol Clin N Am 45 (2007) 751–763).

Biến dạng cấu trúc. Bờ của nhu mô bị kéo (mũi tên) do ung thư xấm lấn ở hình A. Trong bệnh nhân khác ở hình B, khối ung thư xuất hiện dưới dạng một vùng biến dạng cấu trúc có gai (mũi tên).

Bệnh nhân nữ 50 tuổi có khối sờ thấy dưới quầng vú và co kéo núm vú.

Chụp x quang vú chếch trong ngoài hai bên (A) cho thấy không cân xứng ở vùng dưới quầng vú trái. Trên phim hướng đầu chân (B), vùng đó có vẻ hơi bị biến dạng (mũi tên). Trên phim đầu chân phóng đại khu trú (C) biến dạng cấu trúc trở nên rõ ràng và tương ứng với bất thường có thể sờ thấy. Siêu âm (D) cho thấy khối đặc, hình dạng không đều, có bóng cản âm phía sau. Ấn tượng: biến dạng cấu trúc rất nghi ngờ ác tính.

Mô bệnh học: ung thư biểu mô ống xâm lấn.

  1. NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT

4.1. CẤU TRÚC ỐNG KHÔNG ĐỐI XỨNG/ỐNG GIÃN ĐƠN ĐỘC

Đó là cấu trúc ống hay nhánh nhiều khả năng do ống tuyến bị giãn hoặc to lên. Nếu không kết hợp với các dấu hiệu lâm sàng hoặc x quang vú nghi ngờ thì nó thường có ý nghĩa ít quan trọng.

Bệnh nhân nữ 52 tuổi, mới xuất hiện chảy dịch trong từ núm vú trái. Phóng đại ảnh vùng dưới quầng vú trái tư thế đầu chân cho thấy các ống giãn. Mũi tên chỉ đoạn ống bị cắt. Phẫu thuật cắt bỏ u nhú nội ống đơn độc. Siêu âm cắt ngang quầng vú thấy ống giãn (mũi tên cong), u nhú trong lòng ống (các mũi tên thẳng) (March 1999 Radiology, 210, 795-798.)

4.2. HẠCH BẠCH HUYẾT TRONG VÚ

Các hạch trong vú điển hình có hình thận và khuyết sáng do mỡ ở rốn hạch, kích thước thường 1cm hoặc nhỏ hơn. Chúng có thể lớn hơn 1 cm và được xác định như bình thường khi lớp mỡ thay thế chiếm ưu thế. Có thể có nhiều hạch, hoặc thay thế mỡ nổi trội có thể tạo ra một hạch trông giống như vài khối tròn. Chẩn đoán đặc trưng của tổn thương loại này được áp dụng cho các khối, thường ở vị trí trên và ngoài của vú, mặc dù chúng có thể ở bất cứ đâu trong vú.

Ung thư biểu mô xuất hiện dưới dạng nốt mới. Hai phim X quang chếch trong ngoài từ hai lần khám sàng lọc liên tiếp. A, Lần gần đây phát hiện nhiều nốt tròn rõ ở góc ¼ trên phù hợp với các nốt hạch. Một khối nhỏ (mũi tên) không thể nhận ra trên phim chụp trước đó 1 năm. B, phim chụp trước đây 1 năm. C, phim ép khu trú nốt mới (mũi tên) bộc lộ khối có bờ một phần rõ và một phần không rõ. Khối không thể phát hiện trên siêu âm và do đó giả thuyết là đặc. Sinh thiết kim lớn định vị ba chiều được đề nghị. D, ảnh sau sinh thiết cho thấy khuyết (mũi tên) do dụng cụ sinh thiết trợ hút chân không trực tiếp bằng kim 11 gauge. Chẩn đoán mô học là ung thư biểu mô tiểu thùy xâm lấn. (Lawrence W. Bassett, RADIOLOGIC CLINICS OF NORTH AMERICA. VOLUME 38 – NUMBER 4 * JULY 2000)

Nốt hạch bạch huyết lành tính trong vú (BI-RADS loại 2). Lưu ý khuyết tương ứng với rốn mỡ.(L. Liberman, J.H. Menell / Radiol Clin N Am 40 (2002) 409–430)

Hạch bạch huyết điển hình trong vú. Đây là vị trí và hình thái điển hình của hạch bạch huyết trong vú (mũi tên), xuất hiện ở góc ¼ trên ngoài, được nhìn theo tư thế chếch trong ngoài A và đầu chân B. Trên phim kiểm tra nhìn gần (C), phần rốn sáng điển hình có thể thấy rõ ở ảnh chếch trong ngoài. Không cần đánh giá thêm nữa.

4.3. KHÔNG CÂN XỨNG TOÀN BỘ (GLOBAL ASYMMETRY)

Mô vú không cân xứng được đánh giá so sánh với vùng tương ứng của vú bên đối diện và thể hiện cho một thể tích mô vú lớn ở trên một phần đáng kể của vú (ít nhất là góc ¼). Không có khối, cấu trúc bị biến dạng hoặc kết hợp với vôi hóa nghi ngờ. Mô vú không cân xứng toàn thể thường là một biến thể bình thường, nhưng có thể có ý nghĩa khi nó tương ứng với một bất thường có thể sờ thấy.

Không cân xứng toàn bộ nhìn thấy ở tư thế chếch trong ngoài và đầu chân. Một thể tích mô vú lớn hơn ở vú trái so với vùng tương ứng ở vú phải, nhưng không có khối kết hợp, không có vôi hóa nghi ngờ, hoặc biến dạng cấu trúc. (January 2009 RadioGraphics, 29, e33.)

Không cân xứng toàn bộ. (A) Cặp phim hướng chếch trong ngoài. (B) Cặp phim hướng đầu chân. Vú trái đặc hơn vú phải. Cơ sở để xác định không cân xứng toàn bộ là sự khác biệt mật độ mô xơ tuyến không đối xứng liên quan đến ít nhất góc ¼  của vú. Hơn nữa, như trong trường hợp này, không có khối, vi vôi hóa, hoặc biến dạng cấu trúc. (Edward A. Sickles, Radiologic Clinics of North America. Volume 45, Issue 5 , Pages 765-771, September 2007)

4.4. KHÔNG CÂN XỨNG KHU TRÚ (FOCAL ASYMMETRY)

Dấu hiệu này không có đủ các tiêu chuẩn của một khối. Có thể thấy rõ sự không cân xứng được giới hạn, có hình dạng giống nhau ở hai hướng, nhưng không có bờ hoàn toàn và rõ ràng như một khối thực sự. Nó có thể là một đảo mô vú bình thường, đặc biệt khi có mỡ xen vào, nhưng nó thiếu các tính chất lành tính cụ thể nên có thể cần đánh giá thêm. Nó chiếm thể một vùng nhỏ hơn góc ¼.

Không cân xứng khu trú các phim hướng chếch trong ngoài và hướng đầu chân. Hình không cân xứng khu trú có hình dạng tương tự nhau (các mũi tên), không đáp ứng đủ tiêu chuẩn của một khối, được nhìn thấy ở hai tư thế chuẩn. (January 2009 RadioGraphics, 29, e33.)

Không cân xứng khu trú. (A) các phim hướng chếch trong ngoài và đầu chân. Có một vùng mô xơ tuyến đặc không cân xứng ở 1/3 sau của góc ¼ dưới ngoài (ngoài mức núm vú trên phim hướng đầu chân, ở mức núm vú trên phim hướng chếch trong ngoài, và do đó tạo hình tam giác khu trú bên dưới mức núm vú nếu chụp phim hướng trong ngoài). Không có dấu hiệu tương tự có thể nhìn thấy ở vú bên đối diện (không trình bày). Cơ sở để xác định không cân xứng khu trú là sự khác biệt mô xơ tuyến đặc không đối xứng liên quan đến một thể tích chiếm chỗ nhỏ hơn góc ¼ của vú. (B) Vùng phóng đại tư thế chếch trong ngoài và đầu chân của một trường hợp không cân xứng khác. Lưu ý bờ lõm vào trong của tổn thương không cân xứng khu trú và mỡ rải rác bên trong. (Edward A. Sickles, Radiologic Clinics of North America. Volume 45, Issue 5 , Pages 765-771, September 2007)

Không cân xứng khu trú. Vùng không cân xứng khu trú nhìn thấy trên các hướng đầu chân (A) và chếch trong ngoài (B) không có hình lồi ra ngoài của bờ ở tư thế chếch trong ngoài và mỡ xen bên trong tổn thương thấy ở cả hai hướng (mũi tên). (Carl J. D’Orsi. Radiol Clin N Am 45 (2007) 751–763).

Không cân xứng phát triển là vùng không cân xứng khu trú mới, to lên, hoặc đặc hơn ở lần khám hiện tại so với các lần khám trước. Tỷ lệ ác tính báo cáo từ 13% đến 27%.

Trong ảnh thấy không cân xứng phát triển dưới dạng một đám không cân xứng khu trú mới (mũi tên) trên phim chếch trong ngoài theo dõi 2 năm sau chụp phim cơ bản (trái). (January 2009 RadioGraphics, 29, e33.)

Không cân xứng phát triển. Hai vùng không cân xứng khu trú (các mũi tên) nhìn thấy trên phim đầu chân bên trái (A) và chếch trong ngoài (B). Một năm sau, vùng không cân xứng bên dưới to lên và gợi ý các hình gai trên phim đầu chân (C) và chếch trong ngoài (D) so với phim cũ. Mô học: ung thư biểu mô ống xâm lấn. (Carl J. D’Orsi. Radiol Clin N Am 45 (2007) 751–763).

  1. NHỮNG DẤU HIỆU KẾT HỢP

5.1. HẠCH NÁCH

Các hạch nách to (>2cm) nếu không bị thay thế mỡ cần chứng thực nhận xét,  tương quan lâm sàng và đánh giá thêm nếu nó mới xuất hiện.

Hạch nách bình thường kích thước 1,5-2cm, có thay thế mỡ ở trung tâm (hạch phía sau chỉ có một viền mô mỏng).

Hạch nhóm I: hạch lớn có thay thế mỡ và hạch nhỏ đặc hơn.

Hạch to ở nách trái do ung thư vú trái, chủ yếu thấy trên phim là không cân xứng.

5.2. CO KÉO DA

Da bị co kéo một cách bất thường.

Phản ứng tạo mô sợi dính của ung thư ở vị trí nông, kéo lõm và dày da khu trú như trong hình chụp tiếp tuyến này.

5.3. CO KÉO NÚM VÚ

Hình A co kéo núm và quầng vú do khối ung thư ngay bên dưới. Hình B co kéo núm vú do khối ung thư nằm sâu bên dưới.

5.4.  DÀY BÈ (TRABECULAR THICKENING)

Là sự dày lên của các vách xơ của vú

Dày da và các bè do quá trình viêm không u ở hình A. Hình B cho  thấy tình trạng khi tiêu đi tự phát.

5.5. DÀY DA

Có thể dày khu trú hoặc dày lan tỏa, chiều dày hơn 2mm.

Nữ 46 tuổi sàng lọc. Phim chếch trong ngoài trái và phóng đại, mô tuyến khá đặc, có dày da khu trú (mũi tên). Bên dưới có khối tia gai co kéo da. Mô học: Ung thư biểu mô ống xâm lấn.

Nguồn https://bsxqtuan.wordpress.com/2013/06/29/dien-giai-x-quang-vu-phan-cuoi-bien-dang-cau-truc-nhung-truong-hop-dac-biet-nhung-dau-hieu-ket-hop/

Đoàn, Thoại M.D

Chẩn đoán hình ảnh giống như cơm trong bữa ăn, còn làm website - viết bài giống như các món ăn. Cơm không thể thiếu và các món ăn có thể sẽ khác nhau giữa người này với người kia. Hãy chọn một nghề cho chín nhưng vẫn cần học 9 nghề còn lại để cuộc sống không còn nhàm chán.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *