CDC – Nguyên nhân, nguy cơ và cách giảm nguy cơ gây ung thư vú

Các nghiên cứu chỉ ra rằng ung thư vú là kết quả của hội tụ nhiều yếu tố nguy cơ. Đặc biệt nếu tỷ lệ ung thư vú cao ở những người nhóm tuổi từ 45 trở lên và có các yếu tố nguy cơ cao với tần suất tiếp xúc yếu tố nguy cơ cao. Tuy nhiên, tỷ lệ ung thư vú đang bị dần trẻ hóa.

1. Nguyên nhân gây ra một khối ở tuyến vú

Nhiều tình trạng hoặc nguyên nhân gây ra khối ở tuyến vú, trong đó có ung thư vú. Không phải tất cả các khối ở vú đều là ung thư, mà phần lớn các khối ở vú lại được gây ra bởi các nguyên nhân thường gặp khác.

Có hai nguyên nhân thường gặp nhất gây ra một khối hoặc nốt ở vú là nhân xơ vú và nang vú. Nhân xơ vú và nang vú khi được chẩn đoán xác định bằng giải phẫu bệnh thì có nghĩa là bạn không bị ung thư.

2. Nguy cơ ung thư vú

Nhiều nghiên cứu cho thấy nguy cơ ung thư vú không phải là một yếu tố đơn độc mà có sự kết hợp của nhiều yếu tố. Các yếu tố chính có mối liên quan tới độ tuổi, hầu hết ung thư vú được tìm thấy ở những người phụ nữ từ 50 tuổi trở lên.
Một số người phụ nữ có thể bị ung thư vú ngay cả khi không có bất kỳ một yếu tố nguy cơ nào mà chúng ta đã biết. Đồng thời có một yếu tố nguy cơ cũng không có nghĩa là sẽ bị ung thư. Tất cả các yếu tố nguy cơ không phải đều có ảnh hưởng như nhau.
Phần lớn những người phụ nữ có vài yếu tố ung thư vú, nhưng những nghiên cứu cho thấy không phải tất cả các phụ nữ nhóm này đều bị ung thư vú.
Nếu bạn có một hoặc nhiều hơn một yếu tố nguy cơ ung thư vú thì hãy tư vấn bác sĩ để tìm ra giải pháp giảm nguy cơ và có chương trình tầm soát ung thư vú.
Các yếu tố nguy cơ cao của ung thư vú bao gồm:
– Theo tuổi: nguy cơ ung thư vú tăng cao theo lứa tuổi. Hầu hết các ca ung thư vú được chẩn đoán sau tuổi 50.
– Di truyền: các nhà khoa học đã xác nhận nếu một người phụ nữ có hai nhóm gen BRCA1 và BRCA2 thì có nguy cơ ung thư vú cao hơn nhóm còn lại.
– Có kinh nguyệt sớm: nếu một trẻ nữ có kinh nguyệt trước tuổi 12 thì sau này có nguy cơ ung thư vú cao hơn nhóm còn lại.
– Mang thai muộn hoặc không mang thai: Một người phụ nữ mang thai lần đầu tiên sau tuổi 30 hoặc không mang thai lần nào trong đời thì có nguy cơ ung thư vú cao hơn.
– Mãn kinh sau tuổi 55: Giống như có kinh nguyệt sớm, sau 55 tuổi còn kinh nguyệt cũng làm tăng yếu tố nguy cơ ung thư vú.
– Không khám sức khỏe thường xuyên: một người phụ nữ ít hoặc chưa bao giờ khám sức khỏe, chăm sóc y tế thì có nguy cơ cao hơn.
– Thừa cân béo phì sau tuổi mãn kinh: phụ nữ thừa cân, béo phì sau khi mãn kinh làm tăng nguy cơ ung thư vú hơn so với người có cân nặng bình thường.
– Nhu mô tuyến vú dày: ở những người phụ nữ có nhu mô tuyến phát triển quá mức như nhu mô tuyến dày hoặc dày hơn bình thường, tổ chức đệm hoặc mỡ tuyến vú nhiều hơn bình thường dẫn tới tuyến vú có kích thước lớn. Điều này làm hạn chế thăm khám trong y khoa dẫn tới tỷ lệ ung thư vú bị phát hiện muộn tăng cao.
– Sử dụng liệu pháp điều trị nội tiết hormone: Việc sử dụng hormone điều trị trong suy giảm estrogen hoặc progesterol ở phụ nữ mãn kinh trong thời gian từ 5 năm trở lên thì làm tăng nguy cơ bị ung thư vú. Khi sử dụng cảhai hormone này làm tăng nguy cơ ung thư vú cao hơn dùng một loại.
– Sử dụng thuốc tránh thai đường uống: Những người bị ung thư vú thống kê nhận thấy tỷ lệ sử dụng thuốc tránh thai đường uống nhiều hơn.
– Tiền sử ung thư vú: những người đã từng bị ung thư vú thì sẽ có nguy cơ bị lại ung thư vú cao hơn những người còn lại.
– Tiền sử bị ung thư khác không phải ung thư vú: nếu một người phụ nữ đã từng bị một loại ung thư khác không phải ung thư vú thì có tỷ lệ ung thư vú cao hơn những người bị bất kỳ một loại ung thư nào.
– Tiền sử gia đình có người bị ung thư vú: Nguy cơ bị ung thư vú của một người phụ nữ sẽ tăng cao hơn nếu người đó có mẹ, chị gái hoặc em gái hoặc những người thân ruột thịt khác thuộc huyết thống của mẹ như dì, bác là chị của mẹ, …
– Tiền sử có điều trị phóng xạ: phụ nữ có tiền sử điều trị tia xạ vùng ngực hoặc vú (như điều trị ung thư hạch loại Hodgkin) ở trước tuổi 30 thì có nguy cơ ung thư vú cao hơn.
– Sử dụng thuốc diethylstilbestrol (DES): nếu phụ nữ sử dụng thuốc DES (một loại estrogen tổng hợp có tác dụng ngăn ngừa sẩy thai, sinh non, chảy máu và các vấn đề khác …) thì nếu sinh con gái thì đứa trẻ đó sau này lớn lên có nguy cơ ung thư vú cao hơn những trẻ còn lại. Đây là nhận định được kết luận sau khi thống kê ở những phụ nữ Mỹ có sử dụng DES thời gian từ năm 1940 – 1971.
– Uống rượu, hút thuốc lá: phụ nữ uống rượu nhiều hoặc hút thuốc lá nhiều hoặc cả hai thì có tỷ lệ bị ung thư vú cao hơn.
– Môi trường hóa chất: phụ nữ làm việc hoặc sống trong môi trường hóa chất thì tỷ lệ bị ung thư vú cao hơn.

3. Cách giảm nguy cơ ung thư vú

Nhiều yếu tố nguy cơ ung thư vú bạn không thể thay đổi như độ tuổi, nhóm gen, tiền sử gia đình. Nhưng bạn vẫn có thể giảm nguy cơ ung thư vú bằng cách điều chỉnh những yếu tố sau đây:
– Giữ cân nặng ổn định và hợp lý.
– Tập thể dục đều đặn, như ít nhất bốn giờ mỗi tuần
– Tầm soát các yếu tố nguy cơ để loại bỏ.
– Hạn chế hoặc tốt nhất là không nên uống rượu, bia.
– Tránh tiếp xúc với hóa chất độc hại
– Sử dụng các dịch vụ y tế có chứa tia X như X quang, cắt lớp vi tính, PET/CT theo sự chỉ định của bác sĩ.
– Thận trọng trong sử dụng hormon điều trị hoặc làm đẹp.
– Nếu bạn ở độ tuổi trên 45 hoặc có người thân bị ung thư vú hoặc có nhóm gen thuộc nguy cơ cao ung thư vú thì cần tư vấn bác sĩ và có kế hoạch tầm soát ung thư vú.

Đoàn, Thoại M.D

Chẩn đoán hình ảnh giống như cơm trong bữa ăn, còn làm website - viết bài giống như các món ăn. Cơm không thể thiếu và các món ăn có thể sẽ khác nhau giữa người này với người kia. Hãy chọn một nghề cho chín nhưng vẫn cần học 9 nghề còn lại để cuộc sống không còn nhàm chán.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Loading...